Letter to Labor Relations Committee, Nov 20, 2008 (Tiếng Việt)Ngày 20 tháng 11 năm 2008
Căn cứ vào Nghị định số 08/1998/ND-CP của Chính phủ ngày 22 tháng Giêng năm 1998, ban hành quy định về việc Thành lập các Hiệp hội Doanh nghiệp Nước ngoài tại Việt Nam; Căn cứ vào Điều 4.5 của Quy định cho phép Ban Lãnh đạo được đại diện Hiệp hội đưa ra đề xuất và biện pháp lên cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp thành viên và đóng góp vào việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh. Xét thư ngày 11 tháng Tám năm 2008 của Hiệp hội Dệt may Việt Nam gửi Ủy ban Quốc gia về Quan hệ Lao động, Quyết định số 1129/QD-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 18 tháng Tám năm 2008 về việc tăng cường việc lãnh đạo và chỉ đạo quan hệ lao động hài hòa, môi trường đầu tư ổn định, và trật tự xã hội, và Nghị định 111/2008/ND-CP ngày 10 tháng Mười 2008 về tiền lương tối thiểu cho khu vực FDI, v.v. Để đối phó với tình hình kinh tế toàn cầu ngày càng xấu đi, trong đó xuất khẩu từ Việt Nam đang có nguy cơ sẽ giảm cả về số lượng lẫn giá trị, chúng tôi trân trọng đề nghị Ủy ban Quan hệ Lao động xem xét kỹ lưỡng tác động của việc tăng hơn 20% chi phí lao động do Chính phủ quy định trong các ngành Việt Nam chiếm gần 70% lượng hàng nhập khẩu mà Mỹ từ Việt Nam (hàng may mặc, giày dép, đồ gỗ). Nghị định 111 sẽ tăng tiền lương tối thiểu cho nhân viên trong các nhà máy FDI đến 20%, bên cạnh những lần tăng trong các năm trước đó. Tuy nhiên, chúng tôi hài lòng ghi nhận rằng việc thay đổi như đề xuất ban đầu từ ba khu vực lên thành bốn khu vực, mà thay đổi này có thể làm tăng tiền lương tối thiểu lên thêm 33%, đã được lùi lại tới một thời điểm trong tương lai, sau cuộc họp tại TPHCM do Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam tổ chức để Thứ trưởng Thường trực Bộ Lao động Thương binh Xã hội, các sở ngành địa phương gặp gỡ các doanh nghiệp FDI và các hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài. Bên cạnh việc tăng tiền lương tối thiểu, Bảo hiểm Xã hội sẽ tăng từ 20% đến 22% có hiệu lực từ ngày 1 tháng Một năm 2009, và sẽ tiếp tục tăng cho đến khi đạt mức 27% tiền lương cơ bản (18% đối với người sử dụng lao động và 9% đối với người lao động). Mức phí cho công đoàn 1% sẽ được áp dụng cho các người sử dụng lao động FDI. Ngoài ra, chi phí bảo hiểm y tế 3% (2% cho người sử dụng lao động/ 1% cho người lao động) cũng có thể được tăng lên. Việc so sánh những chi phí đang tăng thêm theo quy định của chính phủ này với tình hình các nước cạnh tranh với Việt Nam (Trung Quốc, Ấn Độ, Mê xi cô, Indonexia, Bangladesh, Campu chia, v.v.) là rất thú vị. Ví dụ, Trung Quốc hiện nay hoàn thuế xuất khẩu cho các nhà máy để giúp họ cạnh tranh tốt hơn trong thị trường toàn cầu. Nhiều nhà nhập khẩu Mỹ lo sợ rằng Việt Nam có thể sẽ tăng giá nhiều đến mức họ sẽ không còn tính cạnh tranh. Bên cạnh vấn đề về chi phí đang gia tăng, chúng tôi trân trọng đề nghị Ủy ban Quan hệ Lao động xem xét tác động đối với nền kinh tế Việt Nam từ nguy cơ của các cuộc ngừng công bất ngờ. Ít nhất đã có khoảng 541 cuộc ngừng công đã xảy ra tại Việt Nam vào năm 2007, và khoảng 200 cuộc trong hai tháng đầu năm 2008, hầu hết ở các nhà máy FDI (73,4%) và hầu hết ở các tỉnh thuộc Vùng Kinh tế Trọng Điểm Phía Nam (83%) như Bình Dương, Đồng Nai và TPHCM. Đa số các cuộc ngừng công đều ‘liên quan đến lợi ích” . Những quy định hiện thời về thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể về mặt lợi ích vẫn còn phức tạp và tốn thời gian (Nghị Nghị định 133/CP) trong khi công nhân lúc nào cũng mong chờ phản hồi nhanh chóng. Cách giải quyết trong những cuộc bãi công gần đây nhất thường nhằm giải quyết hòa bình theo hướng có lợi cho các yêu sách của công nhân, khuyến khích công nhân không ngừng công mà không chỉ ra cho công nhân thấy họ đã vi phạm thủ tục cần thiết như thế nào. Trong hầu hết các trường hợp, người sử dụng lao động phải chi trả tiền lương cho thời gian xảy ra ngừng công bất hợp pháp. Trong các trường hợp khác, một số công nhân ngừng công thậm chí còn cưỡng ép những công nhân khác không được quay lại làm việc hay thậm chí còn cắt điện để gây gián đoạn kéo dài. Những hành động gây rối an ninh công cộng và vi phạm tài sản doanh nghiệp là những tội nghiêm trọng, nhưng chúng không hề bị trừng phạt hay phòng ngừa bởi các cơ quan chính quyền địa phương. Cách làm này càng khuyến khích công nhân sẵn sàng sử dụng ngừng công như là một biện pháp đầu tiên – chứ không phải biện pháp cuối cùng như đã được quy định trong luật. Theo đại diện của các nhà máy FDI, chính quyền hầu như không có phản ứng hoặc hỗ trợ nào trong việc hòa giải hay giải quyết những cuộc ngừng công này thông qua việc hình thành kênh đối thoại tốt hơn giữa phía công nhân và phía quản lý trong các nhà máy FDI. Công nhân gặp phải một số khó khăn chính đáng do lạm phát 20% một năm gây ra vào mùa xuân vừa rồi. Chính sách tiền lương và điều kiện làm việc của nhiều doanh nghiệp khác nhau. Cả doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Nhà nước. Lương và điều kiện làm việc của một số doanh nghiệp không đạt chuẩn và đang bị trầm trọng hóa bởi lạm phát đang tăng. Mặc dù nhiều công ty FDI đã trả cao hơn mức lương tối thiểu và cấp thêm trợ cấp đời sống, nhưng vẫn còn dư địa để cải thiện công tác quản lý nguồn nhân lực xét về mặt tiền lương và điều kiện lao động, từ đó củng cố thêm Quan hệ Lao động ở Việt Nam. Theo đó, chúng tôi trân trọng đề nghị Ủy ban Quan hệ Lao động dành mọi nỗ lực để đảm bảo thực hiện chặt chẽ Nghị định 1129/QD-TTg để đảm bảo quan hệ lao động hài hòa, môi trường đầu tư ổn định, và trật tự xã hội. Và bất cứ khi nào xảy ra ngừng công lan rộng trong tương lai mà không tuân thủ trình tự pháp lí, chúng tôi trân trọng kiến nghị Chính phủ ra quyết định theo Điều 176 Luật Lao động Việt Nam về việc ngưng hoặc chấm dứt ngừng công trong một thời đoạn “giảm nhiệt”, trong khi đó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân nơi nảy ra ngừng công triệu tập một cuộc họp bao gồm đại diện các đơn vị sử dụng lao động và Ban Chấp hành Công đoàn để thương lượng về một giải pháp cùng có lợi cho tranh chấp lao động tập thể theo Luật Lao động Việt Nam, Chương XIV, Phần III. Trong quá khứ, môi trường lao động Việt Nam là một nhân tố tích cực khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, gần đây, nó lại trở thành nhân tố tiêu cực, đặc biệt khi các công ty cân nhắc về đầu tư tương lai. Trừ khi Ủy ban Quan hệ Lao động giải quyết triệt để vấn đề chi phí lương và thuế tăng đáng kể, và nguy cơ xảy ra ngừng công rộng khắp, thì chúng tôi tin rằng môi trường lao động ở Việt Nam sẽ không thuận lợi cho đầu tư trong tương lai. Trân trọng,
|
|



