Phát biểu của AmCham, Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam, Ngày 1 tháng 12 năm 2008

Tiếng Anh – English

Tôi hân hạnh được phát biểu hôm nay về quan niệm của AmCham về môi trường đầu tư tại Việt Nam. Tôi xin cảm ơn Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với sự hỗ trợ của World Bank và Công ty Tài chính Quốc tế, đã đóng vai trò tập hợp các quý vị lãnh đạo chính phủ và doanh nghiệp đến đây để thảo luận về phương thức cải thiện điều kiện kinh doanh nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội tại Việt Nam.

Sự tham gia của các hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài vào các cuộc họp thường kỳ này là một cách quan trọng để chúng tôi thúc đẩy thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và đất nước chúng tôi. Sự tham gia này cũng quan trọng đối với nỗ lực phát triển kinh tế của chính phủ, bởi vì các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đóng góp hơn 40% sản lượng công nghiệp, gần 60% tổng xuất khẩu, 20% lực lượng lao động và hơn 35% nguồn thu thuế của Việt Nam.

Tin tức về kinh tế trên toàn thế giới gần như đều là tin xấu. Việt Nam không miễn nhiễm với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu này, và chỉ điều chỉnh chính sách tiền tệ không thôi là không đủ để đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế. Bây giờ là lúc phải tập trung vào khả năng cạnh tranh. Bây giờ là lúc phải làm cho kinh doanh dễ dàng hơn ở Việt Nam. Bây giờ là lúc phải thực hiện các biện pháp góp phần làm mạnh thêm nền kinh tế, chứ không phải làm nền kinh tế suy yếu đi. AmCham xin trình bày một số kiến nghị sau đây về cách làm thế nào để chính phủ có thể đương đầu với những thách thức đang đối mặt nền kinh tế Việt Nam vào thời buổi bấp bênh hiện nay.

Thắt chặt Tín dụng = Không chắc chắn Có Dự án Đầu tư

Vốn dưới hình thức nợ và cổ phần để đầu tư vào Việt Nam đã giảm nhanh chóng trong vài tháng qua. Tâm lý bi quan đang bao trùm triển vọng đi tới giai đoạn hoàn thành của nhiều dự án đã được công bố. Tuy nhiên, trên quan điểm kinh tế vĩ mô, việc vốn FDI tiếp tục được giải ngân vào Việt Nam là hết sức quan trọng. Việc giải ngân này thường phụ thuộc vào mức độ sẵn lòng hậu thuẫn của bên cho vay đối với những dự án đó.

Không may là, môi trường tín dụng đã thay đổi và phần nhiều đã cạn kiệt. Các công ty muốn cấp vốn cho các dự án đầu tư ở Việt Nam hiện nay cần phải chứng tỏ với người cho vay rằng các dự án của họ là những dự án tốt nhất ở châu Á, bởi vì người cho vay hiện thời đang rất kén chọn. Tất cả chúng ta đều biết những trở ngại đang tồn tại đối với kinh doanh tại Việt Nam, bởi vì nhiều trong số các trở ngại này đã được nhắc lại nhắc lại một năm hai lần tại diễn đàn này. Trong nhiều trường hợp, những trở ngại này lớn đến mức – kể cả trong quá khứ – mà các dự án không vay được tiền ngân hàng. Đây là một trong những lý do đằng sau khoảng cách lớn giữa FDI cam kết và FDI giải ngân. Khoảng cách này sẽ còn lớn hơn nhiều lần nữa, trừ khi những trở ngại này được quan tâm giải quyết. Chính phủ cần làm việc chặt chẽ hơn, cùng với các nhà đầu tư, những người hiện nay đang đối mặt với một môi trường đầy thách thức để vay được tín dụng, để giúp nhà đầu tư giải quyết các khó khăn họ đang gặp phải và để làm cho dự án của họ hấp dẫn hơn những dự án tại các nước láng giềng.

Cần phải Dựa vào Chính Mình để Đối phó với Viễn cảnh Kinh tế Vĩ mô Đen tối

Xuất khẩu là khâu then chốt đối với nền kinh tế Việt Nam, đóng góp hơn một nửa GDP. Vì thế, khủng hoảng tài chính và sự suy giảm chi của người tiêu dùng tại các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam có khả năng sẽ gây khó khăn cho Việt Nam trong những tháng tới.

Thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam là Mỹ, chiếm 26% tổng xuất khẩu của Việt Nam. EU chiếm 19%, Nhật Bản 16%. Cả ba thị trường này đều đang gặp khó khăn nghiêm trọng.

Vietnam's Top 10 Export Markets

Nguồn: Thời báo Kinh tế Việt Nam, Số 176, Tháng Mười 2008.

Gần đây các cửa hàng bán lẻ dây chuyền của Mỹ đã thông báo kết quả doanh số tháng Mười thấp nhất trong vòng 35 năm vì các hộ gia đình Mỹ đã ghìm bớt chi tiêu trong hoàn cảnh thị trường việc làm gặp khó khăn, tín dụng bị thắt chặt và giá trị nhà sụt giảm. Chi của người tiêu dùng chiếm gần 70% của nền kinh tế Mỹ. Khi chi của người tiêu dùng giảm bớt, thì nhập khẩu còn giảm mạnh hơn.

Khoảng hai phần ba hàng nhập khẩu vào Mỹ từ Việt Nam là hàng may mặc, giày dép và đồ gỗ. Những loại hàng hóa này chịu tác động của suy giảm về tiêu thụ, dẫn đến khả năng làm cho xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ sẽ bị giảm. Điều này sẽ làm giảm thu nhập từ xuất khẩu, và quan trọng hơn, sẽ giảm số lượng công ăn việc làm tại Việt Nam.

Top U.S. Imports from Vietnam in 2007

Nguồn: Bộ Thương mại Mỹ

Khi khủng hoảng tài chính thế giới kéo dài và nghiêm trọng hơn, thì Việt Nam sẽ chịu tác động tiêu cực nhiều hơn, thị trường xuất khẩu và việc làm còn suy yếu hơn nữa, FDI cũng như các nguồn tài chính khác cũng giảm, ví dụ như giảm đầu tư gián tiếp.

Lựa chọn tốt nhất của Việt Nam là dựa vào chính mình. Chỉ bằng cách tăng năng suất và giảm chi phí kinh doanh, thì Việt Nam mới có thể duy trì và cải thiện được mức tăng xuất khẩu.

Thật không may là chi phí lao động trong các ngành xuất khẩu chính của Việt Nam sẽ tăng thêm 20% đến 30% bắt đầu từ tháng Giêng khi nghị định mới về lương tối thiểu, tăng bảo hiểm xã hội và các loại thuế khác có hiệu lực. Chúng tôi cho rằng điều quan trọng là chính phủ cần cân nhắc thời điểm thi hành nghị định này có tính đến tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Chúng tôi thông cảm với nhu cầu của người lao động và hoàn toàn hiểu rằng lạm pháp đã ảnh hưởng đến sức mua của đồng lương của người lao động. Tuy nhiên, xét trong một bối cảnh rộng hơn, chúng tôi cũng phải chỉ ra rằng nếu Việt Nam cải thiện được khả năng cạnh tranh và cung cấp được hàng hóa chất lượng với chi phí thấp hơn các nước láng giềng, thì Việt Nam sẽ giảm được tác động tiêu cực đối với xuất khẩu và việc làm trong khu vực công nghiệp chế tạo và toàn bộ nền kinh tế. Việc điều hành nhu cầu của người lao động và người sử dụng lao động đòi hỏi có sự phối hợp cân bằng và cẩn trọng trong thời buổi khó khăn này.

Bên cạnh vấn đề về chi phí đang gia tăng, AmCham, cùng với Hiệp hội Dệt May Việt Nam và một số Hiệp hội Doanh nghiệp Nước ngoài khác, đã yêu cầu Ủy ban Quan hệ Lao động xem xét những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế Việt Nam từ nguy cơ của các cuộc ngừng công bất ngờ.

Những cuộc ngừng công này đang gây tổn hại cho uy tín của Việt Nam như là một điểm đến hứa hẹn cho đầu tư nước ngoài. Không may là, chính quyền hầu như không có phản ứng hoặc hỗ trợ nào cho việc hòa giải hay giải quyết những cuộc ngừng công này thông qua hình thành kênh đối thoại tốt hơn giữa phía công nhân và phía quản lý trong các nhà máy FDI. Hơn nữa, những quy định hiện thời về thủ tục giải quyết tranh chấp lao động tập thể liên quan đến lợi ích vẫn còn phức tạp và mất thời gian trong khi công nhân lúc nào cũng mong chờ phản hồi nhanh chóng.

AmCham thấu hiểu sự quan ngại của chính phủ đối với những vấn đề về lao động này. Trong 18 tháng vừa qua, luật mới, và nghị định thi hành mới đã được đưa vào thực hiện để cải thiện tình hình, bao gồm “Quan hệ đối tác tay ba” giữa Chính phủ (MOLISA), Người lao động (VGCL), và Người sử dụng lao động (VCCI). Trong tháng Tám, Thủ tướng đã ban hành Quyết định 1129 để thực hiện Chỉ đạo của Đảng về “tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đối với việc phát triển quan hệ lao động hài hòa, cải thiện môi trường đầu tư và trật tự xã hội”. Những biện pháp này là tích cực, nhưng biện pháp tiếp theo cũng sẽ là cần thiết để tạo lòng tin vào môi trường lao động ở Việt Nam của các nhà đầu tư nước ngoài. Chính phủ cần có những cơ chế hiệu quả có thể khuyến khích sự hợp tác và đối thoại giữa phía công nhân và phía quản lý để giải quyết bất đồng một cách hòa bình và xây dựng. Vẫn còn dư địa để cải thiện công tác quản lý nguồn nhân lực xét về mặt tiền lương và điều kiện lao động, từ đó củng cố thêm Quan hệ Lao động ở Việt Nam.

Trong quá khứ, môi trường lao động Việt Nam là một nhân tố tích cực khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tuy nhiên, gần đây, nó lại trở thành nhân tố tiêu cực, đặc biệt khi các công ty cân nhắc về đầu tư trong 5 năm tới. Trừ khi chính phủ quyết tâm có giải pháp bền vững và quyết liệt hơn trong cách tiếp cận, những biện pháp luật lệ hiện hành sẽ không có tác dụng và làn sóng đình công tự phát sẽ tiếp tục lan rộng, gây tổn hại thêm cho nền kinh tế và uy tín của Việt Nam như là một điểm đến thuận lợi cho đầu tư.

Một số việc làm khác gần đây đang làm giảm mức độ hấp dẫn của Việt Nam trong đó có việc áp đặt những yêu cầu khai báo và giấy tờ phiền hà đối với việc xin giấy phép lao động, và những thay đổi trong luật thuế thu nhập cá nhân. Những thay đổi này đã xóa bỏ khấu trừ đối với một vài khoản trước đây không bị đánh thuế như phụ cấp nhà ở, giáo dục, đi lại và nghỉ phép. Gánh nặng thuế thêm vào này sẽ làm tăng đáng kể chi phí đối với người sử dụng lao động hoặc sẽ dẫn đến một sự suy giảm đáng kể trong thu nhập ròng của người lao động.

Cơ sở hạ tầng Kỹ thuật

Vấn đề then chốt của cơ sở hạ tầng kỹ thuật đã được nêu ra bởi AmCham và các Hiệp hội Doanh nghiệp Nước ngoài ít nhất kể từ tháng Năm năm 2006.

Hôm nay chúng tôi chỉ xin lưu ý là vẫn còn thiếu các cơ sở hạ tầng thiết yếu, đặc biệt là điện năng, cảng biển và các cơ sở hạ tầng trên mặt đất như đường và cầu.

Sự sụt giảm xuất khẩu của Việt Nam tới đây có thể là một cơ hội để “đuổi kịp” trong việc phát triển cơ sở hạ tầng, mặc dù việc huy động vốn cho dự án có thể khó khăn hơn. Chúng tôi cũng xin lưu ý rằng Trung Quốc và các nước láng giềng đã tuyên bố sẽ tăng chi tiêu chính phủ vào các dự án hạ tầng thiết yếu như là một biện pháp để làm tăng khả năng cạnh tranh, cũng như để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, mặc dù mức đầu tư nước ngoài đang giảm.

Hạn chế về cơ sở hạ tầng đe dọa các dự án FDI hiện tại và tương lai trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo và xuất khẩu. Sự tham gia của khu vực tư nhân vào xây dựng, đầu tư và quản lý cơ sở hạ tầng là bức thiết, đặc biệt trong việc xây dựng cảng nước sâu và nhà máy điện.

Minh bạch và Quản trị Tốt

Tính minh bạch, công tác quản lý và tham nhũng là những vấn đề lớn ở Việt Nam.

Tham nhũng trong các công trình hạ tầng và công cộng đã làm tăng thêm sự thiếu hụt cơ sở hạ tầng tại Việt Nam. Nhiều dự án hạ tầng được tài trợ bởi các khoản vay ODA từ Ngân hàng Thế giới và các nhà tài trợ khác có mặt tại đây hôm nay. Một ví dụ gần đây nêu tại Quốc hội liên quan đến một dự án xây dựng cầu ước chi phí khoảng 1,2 triệu đô-la với thời gian thi công 16 tháng. Dự án vẫn chưa được hoàn thành sau 10 năm với chi phí 7,3 triệu đô-la. Chúng tôi cảm thấy phấn khích bởi thông tin của báo chí gần đây về vấn đề này cũng như nhận thức của công chúng về vai trò chủ động chống tham nhũng của chính phủ.

Chúng tôi hoan nghênh tuyên bố gần đây của một quan chức Chính phủ rằng “Việt Nam nhận thức đầy đủ về mối đe dọa của tham nhũng và xem tham nhũng như một hiểm họa quốc gia và chống tham nhũng là một nhiệm vụ quan trọng,” và “Chính phủ Việt Nam luôn khuyến khích báo chí đóng vai trò tích cực trong cuộc chiến chống tham nhũng một cách toàn diện, triệt để và đúng pháp luật.” Tuy nhiên, chúng tôi lấy làm tiếc rằng chúng tôi chưa thể tự tin nói với Quốc hội Mỹ rằng số tiền đóng thuế của người Mỹ được phân bố thông qua Ngân hàng Thế giới và ADB cho sự phát triển của Việt Nam đang được sử dụng đúng chỗ.

Chúng tôi cũng hài lòng khi Việt Nam đang soạn dự thảo chiến lược chống tham nhũng trong khuôn khổ của Ban Thanh tra Chính phủ, bắt đầu bằng một chương trình ba năm để tăng cường năng lực.

Chúng tôi xin ghi nhận rằng đây không phải là vấn đề dễ giải quyết. Hệ thống kiểm soát hiện tại không đủ để ngăn ngừa các quan chức tha hóa biển thủ nguồn vốn dành cho cơ sở hạ tầng công cộng. Tuy vậy, tham nhũng là một trong những thách thức lớn nhất cho sự tiến bộ của Việt Nam.

Cải cách Kinh tế và Việc Thực hiện Cam kết WTO

AmCham hoan nghênh chính phủ về những thay đổi lớn đã diễn ra để Việt Nam tuân thủ với các đòi hỏi của việc tham gia vào Tổ chức Thương mại Thể giới. Chúng tôi đánh gia cao việc chính phủ sẵn lòng lắng nghe những mối quan ngại của chúng tôi và đã có hành động trong nhiều lĩnh vực.

Hôm nay, chúng tôi nhận thấy những vấn đề chưa được giải quyết liên quan đến định nghĩa của từ “bán lẻ” và “dịch vụ bán lẻ”, bởi vì quy định vẫn còn giữ một định nghĩa không phù hợp, định nghĩa này xem bất cứ việc bán hàng nào cho ‘người tiêu thụ cuối cùng’ – thậm chí cả đối với sản phẩm công nghiệp – là “bán lẻ” và, do đó, phải chịu “Kiểm tra Nhu cầu Kinh tế.”

Thêm vào đó, AmCham và các hiệp hội doanh nghiệp khác đã liên tục chỉ ra trong hai năm qua rắng Kiểm tra Nhu cầu Kinh tế cần được giới hạn trong các “thủ tục đã được xây dựng trước và luôn sẵn sàng cho công chúng, và việc phê duyệt cần phải dựa trên các tiêu chí khách quan. AmCham xin trân trọng một lần nữa đề nghị Bộ Công Thương điều chỉnh định nghĩa về bán lẻ và làm rõ “Kiểm tra Nhu cầu Kinh tế.”

Kết luận

Suy thoái kinh tế trên toàn thế giới hiện nay đang là mối lo ngại của tất cả các công ty, bất kể công ty đến từ quốc gia nào. Trong cả lúc thuận lợi và khó khăn, Việt Nam cần thực hiện cải cách nhằm cải thiện môi trường kinh tế và kinh doanh. Các quốc gia, các khu vực kinh tế, các thành phố và các tỉnh cần chính sách kinh tế tốt và hạ tầng luật lệ tốt để thu hút FDI, thúc đẩy thương mại và phát triển kinh tế xã hội. Việc giải quyết những vấn đề nêu ra hôm nay một cách kịp thời và có tham khảo các bên liên quan sẽ giúp tăng niềm tin của nhà đầu tư.

Mặc dù Việt Nam đang đối mặt với một số thách thức kinh tế cam go, nhưng Việt Nam vẫn là một điểm đến hấp dẫn của đầu tư từ Mỹ. AmCham sẽ tiếp tục cố gắng nhằm tăng cường sự hiểu biết của các công ty Mỹ về cơ hội kinh doanh đang ngày càng tăng tại đây, và chúng tôi sẽ tiếp tục quyết tâm làm việc với các đối tác của chúng tôi từ phía Việt Nam để cải thiện môi trường kinh doanh.

Tôi xin gửi lời chúc sức khỏe đến các quý vị lãnh đạo và các quý vị đại biểu hôm nay. Tôi xin cảm ơn vì có cơ hội được phát biểu tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam.

Tiếng Anh – English

Search amchamvietnam.com